Khái niệm, mục tiêu, phân loại PP Dạy học theo dự án

12 30

Khái niệm, mục tiêu, phân loại PP Dạy học theo dự án

1. Khái niệm dự án

Thuật ngữ dự án trong tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch. Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế -xã hội; trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lí xã hội...

Dự án là một dự định, một kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện, tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Dự án có tính phức hợp, tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt [4].

Một dự án nói chung có những đặc điểm cơ bản sau [5]:

- Có mục tiêu được xác định rõ ràng;

- Có thời gian qui định cụ thể;

- Có nguồn tài chính, vật chất, nhân lực giới hạn;

- Mang tính duy nhất (phân biệt với các dự án khác);

- Mang tính phức hợp, tổng thể;

- Được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt.

Có nhiều loại dự án khác nhau. Dựa theo nội dung của dự án có thể phân biệt các loại sau [5]:

- Dự án đầu tư – xây dựng: đầu tư xây dựng, đầu tư trang thiết bị;

- Dự án nghiên cứu - phát triển: nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm mới, các máy móc, thiết bị, kết cấu kỹ thuật; xây dựng các chương trình, phần mềm…

- Dự án tổ chức: xây dựng tổ chức mới, thay đổi tổ chức, …

- Dự án hỗn hợp: bao gồm: một số nội dung đã nêu trên.

Quá trình thực hiện một dự án được phân chia thành các giai đoạn khác nhau. Cách phân chia phổ biến bao gồm 4 giai đoạn cơ bản sau đây:

- Xác định mục tiêu dự án (giai đoạn chuẩn bị / giai đoạn khả thi);

- Lập kế hoạch dự án (lập kế hoạch và thiết kế dự án);

- Thực hiện dự án (thực hiện và kiểm tra);

- Kết thúc dự án (đánh giá).

2. Khái niệm DHDA

Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học [5].

Khái niệm “Project” được sử dụng trong các trường dạy về kiến trúc- xây dựng ở nước Ý từ cuối thế kỉ 16. Từ đó tư tưởng DHDA lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mĩ, trước hết là trong các trường đại học và chuyên nghiệp. Đầu thế kỉ 20 các nhà sư phạm Mĩ đã xây dựng cơ sơ lí luận cho phương pháp dự án (The Project Method) và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi thầy giáo là trung tâm. Ban đầu, phương pháp DHDA được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kĩ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, cả các môn khoa học xã hội [5]. Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, hiện nay PPDA được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển.

Ở Việt Nam, các đề án môn học, đồ án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với DHDA. Tuy vậy, trong lĩnh vực lí luận dạy học, PPDH này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao. Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về DHDA. Ngày nay DHDA được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều PPDH cụ thể được sử dụng [5]. Tuy nhiên, khi không phân biệt giữa hình thức và PPDH, người ta cũng gọi là DHDA, khi đó cần hiểu đó là PPDH theo nghĩa rộng, một PPDH phức hợp.

DHDA là một PPDH lấy hoạt động của người học làm trung tâm. Quá trình giảng dạy luôn định hướng vào các khái niệm cơ bản của môn học nhưng gắn liền với thực tế. Theo phương pháp này, người học phải tự mình giải quyết các vấn đề và các nhiệm vụ có liên quan khác để có được kiến thức, khả năng giải quyết vấn đề và cho ra những kết quả thực tế.

Bản chất của DHDA là người học lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua việc giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn (bài tập dự án). Kết thúc dự án người học phải cho ra sản phẩm gắn với thực tiễn cụ thể.

3. Mục tiêu DHDA

- Tất cả các nội dung của môn học đều hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực.

          - Rèn luyện cho người học phát triển kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến nội dung học tập và cuộc sống.

          - Rèn luyện cho người học nhiều kĩ năng: tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, làm việc theo nhóm.

          - Giúp người học nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm.

  • Đặc điểm DHDA

Trong các tài liệu về DHDA có rất nhiều đặc điểm được đưa ra. Các nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ 20 khi xác lập cơ sở lí thuyết cho PPDH này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm [11]. Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau:

  • Định hướng thực tiễn:

Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học.

  • Có ý nghĩa thực tiễn xã hội:

Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực.

  • Định hướng hứng thú người học:

HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án.

  • Tính phức hợp:

Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.

  • Định hướng hành động:

Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dung lí thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.

  • Tính tự lực cao của người học:

Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ học tập được giao.

  • Cộng tác làm việc:

Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm. DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án. Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính cộng đồng.

  • Định hướng sản phẩm:

Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn.

4. Vai trò người học

- Người học làm việc theo nhóm.

- Người học (nhóm) thực hiện một dự án là một nội dung trong môn học gắn liền với thực tế bằng cách thực hiện các vai được chỉ định.

- Người học tự lực triển khai dự án theo quan điểm và cách tiếp cận của mỗi người (nhóm) như: quyết định cách tiếp cận vấn đề, tự hoạch định và tổ chức các hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề.

- Người học (nhóm) thu thập xử lí thông tin từ nhiều nguồn theo nhiệm vụ được giao. Từ đó tích lũy kiến thức và nhiều giá trị khác từ quá trình làm việc của mình.

- Người học hoàn thành việc học với các sản phẩm cụ thể từ dự án mình được giao.

- Người học phải trình bày và bảo vệ sản phẩm có tích hợp công nghệ thông tin của mình trước sự đánh giá của GV và các nhóm khác.

5. Vai trò người dạy

- Không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống (truyền đạt kiến thức sẵn có cho HS).

- Từ nội dung của môn học, tìm ra sự liên quan của nó đến các vấn đề thực tiễn.

- Hình thành ý tưởng các dự án liên quan đến nội dung môn học.

- Xây dựng vai trò của người học trong dự án, nêu yêu cầu và đặc điểm của kết quả sau khi dự án hoàn thành. Hướng vai trò của người học gắn với nội dung cần học.

- Trong suốt quá trình giảng dạy, vai trò của GV là hướng dẫn và tham vấn chứ không phải là “cầm tay chỉ việc” để người học (nhóm) phát huy khả năng tự giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo và xử lí tình huống.

Theo tác giả Nguyễn Thế Hưng (2009), DHDA có thể được phân loại dựa theo nhiều cơ sở khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại chính [7]:
6.1. Phân loại theo môn học

- Dự án trong môn học: nội dung chỉ nằm trong một môn học.

- Dự án liên môn: nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau.

- Dự án ngoài liên môn: nội dung không nằm ở môn học, ví dụ dự án

chuẩn bị cho các lễ hội.

6.2. Phân loại theo thời gian

- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 đến 6 giờ học.

- Dự án trung bình: có thể thực hiện một hoặc một số ngày, nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.

- Dự án lớn: có thể thực hiện với thời gian tối thiểu là một tuần (hoặc 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần.

6.3. Phân loại theo sự tham gia của người học

- Dự án cho cá nhân.

- Dự án cho nhóm HS

- Dự án cho một lớp học.

- Dự án cho cả trường

6.4. Phân loại theo nhiệm vụ

- Dự án tìm hiểu: dự án khảo sát thực trạng đối tượng.

- Dự án nghiên cứu: giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, các quá trình.

- Dự án thực hành: tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn nhằm thực hiện các nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác.

- Dự án hỗn hợp: dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.

6.5. Phân loại theo sự tham gia của GV

- Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV.

- Dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV.

Để lại nhận xét

Hãy chắc chắn rằng bạn nhập đầy đủ thông tin. Ngôn ngữ HTML không được phép.

Đang có 189 khách và không thành viên đang online

Thống kê

00384956
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
2206
2809
18744
247322
33763
80428
384956

IP của bạn: 3.236.59.63
10-07-2020